Chuyển đến nội dung chính

Trương Tam Phong thuyết giảng quan hệ giữa Ngũ hành, Ngũ tạng và Ngũ đức

 Hồng trần cuồn cuộn, biển khổ mênh mông, để thức tỉnh và giáo hóa thế nhân, Trương Tam Phong đã viết tác phẩm “Thiên khẩu” – miệng Trời…

Sách gồm 24 thiên, đề cập đến những nội dung như Ngũ đức, hiếu hạnh, dâm ác, yêu thương người, kính Thần, y dược, xem tướng, bói quẻ… Ông dùng “Thiên khẩu” để nói về nhân sinh, chỉ điểm phá mê cho mọi người có căn cơ khác nhau, từ đó giảng về Đạo làm người, Đạo xử thế, ân cần khuyên con người trọng đức hành thiện, bảo cho mọi người biết chịu khổ là phúc: “Chịu thiệt hết thì kiếp nạn tiêu trừ”.

Trương Tam Phong cho rằng nhân sinh có Ngũ đức: Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín, chúng tương ứng với Ngũ hành: Mộc – Kim – Hỏa – Thủy – Thổ của trời đất và Ngũ tạng: Can – Phế – Tâm – Thận – Tỳ trong cơ thể người. Đó chính là:

  • Nhân – Mộc – Can
  • Nghĩa – Kim – Phế
  • Lễ – Hỏa – Tâm
  • Trí – Thủy – Thận
  • Tín – Thổ – Tỳ

1. Nhân – Can – Mộc

“Người ta đều nói, trong đời sống không thể thiếu Mộc, vậy tại sao lại đánh mất Nhân. Người trong tâm không có Nhân ắt sẽ không có ý niệm dưỡng dục, không yêu thương bảo vệ người khác, không biết giữ gìn dưỡng thân, lâu dần Can sẽ suy kiệt, và những thứ thuộc hành Mộc cũng vì thế mà khô héo”.

Trích “Ngũ Đức” – Trương Tam Phong.

Quyển 21, sách “Lễ ký chính nghĩa” cho rằng: “Nhân có được từ việc thờ cha, nghĩa có được từ việc thờ tổ”. Người xưa cho rằng Nhân chính là đức dưỡng dục.

2. Nghĩa – Phế – Kim

“Người ta đều nói, trong đời sống không thể thiếu Kim, vậy tại sao lại đánh mất Nghĩa. Người không có Nghĩa ắt sẽ không biết suy nghĩ đúng sai, không biết chính nghĩa, thì lâu dần Phế sẽ mất chức năng, và những thứ thuộc hành Kim cũng sẽ mục nát”.

Trích “Ngũ Đức” – Trương Tam Phong.

Có thể thấy rất rõ trong dịch bệnh viêm phổi Vũ Hán, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) chà đạp nhân quyền, bức hại tín ngưỡng, mọi người cần cất lên tiếng nói chính nghĩa, nhưng ở Trung Quốc và một số quốc gia trên thế giới, có nhiều người, kể cả một số nhà lãnh đạo quốc gia, tôn giáo, chính giới, giới học thuật, truyền thông, giải trí… trên thế giới lại giữ im lặng. Như vậy họ đã đánh mất đi chính nghĩa, dẫn đến phổi (phế) mất đi chức năng, mất đi chính khí, do đó giống như kim loại bị gỉ, bị mục nát, loang lổ, cuối cùng bị dịch bệnh xâm nhập, khiến khó thở, thậm chí ngừng thở.

3. Lễ – Tâm – Hỏa

“Người ta đều cho rằng trong đời sống không thể thiếu Hỏa, vậy tại sao lại đánh mất Lễ. Người đánh mất Lễ ắt tâm hồn thiếu ánh sáng và nhiệt huyết, lâu dần Tâm sẽ lạnh giá, và những thứ thuộc hành Hỏa cũng bị lụi tàn”.

Trích “Ngũ Đức” – Trương Tam Phong.

Lửa có thể chiếu sáng nơi hắc ám, sưởi ấm con người, khiến con người giảm bớt sự lo lắng và sợ hãi. Lửa giống như thuộc tính của Tâm và là đức của Lễ.

4. Trí – Thận – Thủy

“Người ta đều cho rằng trong đời sống không thể thiếu Thủy, vậy tại sao lại vứt bỏ Trí. Người thiếu Trí giống như Thủy bị ô nhiễm vẩn đục, ắt sẽ thiếu Trí tuệ trong sáng, lâu dần khiến chức năng Thận suy kiệt, và những thứ thuộc hành Thủy cạn khô”.

Trích “Ngũ Đức” – Trương Tam Phong.

“Luận ngữ” cũng viết “Trí giả nhạo thủy” (Người có trí tuệ thì vui với sông nước). “Luận ngữ tập chú” viết: “Người trí tuệ đạt được cảnh giới xử lý sự tình chu toàn trôi chảy, giống như nước, do đó vui với sông nước”.

Trong “Đại đới lễ ký”, Tử Cống hỏi Khổng Tử rằng: “Tại sao người quân tử khi thấy sông lớn thì ắt sẽ dừng chân ngắm trông?”

Khổng Tử trả lời rằng: “Nước được ví với đức người quân tử: Nhân – Nghĩa – Dũng – Trí. Nước thuận theo lý mà chảy mãi không dừng, nơi nào nước đến là tẩy rửa sạch dơ bẩn, chu toàn trôi chảy không trở ngại, thông đạt vô trở, tương hợp với thiên tính của bậc trí giả”.

5. Tín – Tỳ – Thổ

“Người ta đều cho rằng trong cuộc sống không thể thiếu Thổ, vậy tại sao lại thiếu Tín. Người thiếu Tín ắt sẽ thiếu thành tín, lâu dần khiến chức năng của Tỳ suy kiệt, và những thứ thuộc hành Thổ cũng sẽ băng hoại”.

Trích “Ngũ Đức” – Trương Tam Phong.

Trong các truyền thuyết phương Đông và phương Tây, Thần chiểu theo hình tượng bản thân, dùng đất (Thổ) tạo ra con người. Đất cũng mang chở vạn vật, dưỡng dục vạn vật. Thế gian có xuân hạ thu đông, có âm dương dưỡng dục, tất cả các cơ chế vận hành, có trình tự rành mạch. Thể hiện ở thiên nhiên là khi cần sinh thì sinh, khi cần trưởng thành thì trưởng thành, khi cần thu hoạch thì thu hoạch, khi cần tàng trữ thì tàng trữ. Biểu hiện ở bốn mùa là 24 tiết khí thay đổi lẫn nhau, giống như đồng hồ báo thức, đúng giờ là Tín, điều tiết nuôi dưỡng vạn vật là Dụng. Đó chính là Tín của Thổ.

Ngũ hành thuộc thổ tương ứng với Tỳ tạng, chủ trì các cơ năng của thân thể về vận động, chuyển hóa và sinh dưỡng; đối ứng với phẩm hạnh của con người là Tín, nói lời giữ lời, làm việc giữ Tín.

Trung Hòa
Theo Epoch Times.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Ý nghĩa “Nhất mệnh – Nhì Vận – Tam Phong Thuỷ – Tứ Âm Phúc – Ngũ Tri thức”

  Theo quan niệm của những sách cổ học thuật số Phương Đông xưa có câu: “Nhất mệnh, nhì vận, tam Phong Thuỷ, tứ âm phúc, ngũ tri thức”. Câu này ý nghĩa như thế nào? Nghĩa là số mệnh là yếu tố quyết định toàn cục cuộc đời của một con người, tiếp đến là ảnh hưởng của thời vận, thứ ba là ảnh hưởng của phong thủy. Nói cách khác, số mệnh và sinh ra gặp thời là yếu tố tiền định thuộc tiên thiên; phong thủy là hậu thiên, được quyết định bởi hành vi của đương số và sự điều chỉnh môi trường sinh sống. Ngay từ lúc con người sinh ra đã được trời ban cho một “Số mệnh”, từ trong “mệnh” đó sẽ diễn sinh ra “vận” để chi phối cuộc sống sau này. Mệnh là sinh ra đã có sẵn, không thuộc phạm vi khống chế của bản thân, ví dụ như xuất thân, tướng mạo, cá tính, số lượng anh chị em,…, đó chính là “số mệnh” tiên thiên không thể thay đổi được, nên người xưa bình thản tiếp nhận và chấp nhận sống chung với nó. Căn cứ vào lý luận của Tử Vi Đẩu số, Tử Bình, Bát Tự Hà Lạc,… cuộc đời thực tế của con người là được ...

Thiện duyên là gì? Làm thế nào để có thiện duyên?

Đời người có quá nhiều điều không thể biết, chỉ một ý niệm trong đầu, một lần quyết định sẽ có thể nắm được hoặc bỏ qua một lần nhân duyên.   1. Câu chuyện về hòn đá sang được sông Có lần, Đức Phật dẫn các đồ đệ đi truyền pháp và hóa duyên, vừa tới một bờ sông lớn, nước chạy cuồn cuộn, Đức Phật hỏi các đồ đệ rằng: – Bây giờ nếu ta ném hòn đá này xuống sông, nó sẽ chìm hay nổi đây? Các đệ tử đồng thanh trả lời: – Thưa Đức Thế Tôn, hòn đá sẽ chìm ạ. Đức Phật cho hay: – Vậy là hòn đá này không có thiện duyên rồi. Đệ tử của Ngài càng tò mò vì sao Đức Phật lại nhắc chuyện thiện duyên với một hòn đá vô tri bên sông. Lúc này Ngài tiếp lời: – Vậy các con hãy cho ta biết vì sao khối đá tảng rộng ba thước vuông, đặt trên nước mà không bị chìm, không bị dính một giọt nước nào mà lại còn có thể đi qua sông? Các đệ tử trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu nhưng không ai nói ra được nguyên nhân vì sao cả. Cuối cùng, Đức Phật bèn giải thích: – Chuyện này xem ra rất đơn giản. Tảng đá ấy có thiện duyên nên mớ...

Bài học từ Lão Tử về sống vì người khác lại thành tựu chính mình

 Trời đất trường tồn vì đâu? – Bài học từ Lão Tử về sống vì người khác lại thành tựu chính mình Có một đoạn trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử được nhiều người đời sau suy ngẫm: “Trời dài, đất lâu. Trời đất sở dĩ dài lâu chính vì không sống cho mình, vì thế nên trường sinh. Vì vậy thánh nhân để thân ra sau mà thân ở trước; để thân ra ngoài mà thân còn. Vì không riêng tư, nên vẫn thành được cái riêng tư.” Đọc tưởng chừng mơ hồ, nhưng ngẫm lại thì đó là bài học cực kỳ sâu sắc, và cũng rất thiết thực. Trời đất bền lâu vì… không sống cho mình Bạn thử nhìn trời cao đất rộng: trời không sống vì nó, đất không giữ gì cho riêng nó. Mưa xuống không chọn nhà giàu, mặt trời không chỉ soi cho người tốt. Mọi thứ thiên nhiên làm đều không tư lợi – và vì thế mà nó trường tồn. Đó cũng là cách Lão Tử dạy ta: hãy sống giống như trời đất – không tính toán hơn thua, không ôm cái tôi nhỏ mọn, không đặt lợi riêng lên trên tất cả. Có vậy mới bền lâu được. Trong cuộc sống hiện đại, ta thấy rất rõ điều này. Nhữn...