Chuyển đến nội dung chính

Trí tuệ cổ nhân: Đời trước gieo nhân, đời sau gặt quả

 Trí tuệ cổ nhân: Đời trước gieo nhân, đời sau gặt quả

Người xưa tin tưởng vào nhân quả báo ứng, cho rằng muốn con cháu đời sau có phúc báo thì cần bắt đầu từ bản thân mình, tu tâm hướng thiện. Họ tâm niệm rằng hành tiểu thiện sẽ tích được tiểu đức, hành đại thiện sẽ tích được đại đức. Tổ tiên chỉ cần có đại đức thì con cháu nhất định sẽ được hưởng phúc báo.


Trong lịch sử ghi chép lại rất nhiều trường hợp thực tế tổ tiên hành thiện tích đức, con cháu đời sau vinh hiển phú quý. Dưới đây xin trích dẫn hai câu chuyện được ghi chép trong “Liễu Phàm Tứ Huấn” và “Hán Thư – Liệt truyện”.

Trong cuốn sách cổ “Liễu Phàm Tứ Huấn“ có ghi lại một câu chuyện như sau:

Dương Tự Trừng là người Ninh Ba, Chiết Giang, làm thư lại trong huyện nha. Tuy ông giữ chức vị không cao nhưng đầy lòng thương người và độ lượng, tôn trọng luật pháp và xử lý công bằng. Lúc ấy, quan huyện là người rất nghiêm khắc, có lần phạt hình tù nhân đến đổ máu mà cơn nóng vẫn chưa hạ. Dương Tự Trừng thấy vậy liền quỳ sụp xuống xin quan huyện nương tay.

Quan huyện nói rằng: “Ngươi cầu xin như vậy không phải là ta không thể nương tay, nhưng tù phạm này không tuân thủ pháp luật, lại vi phạm đạo đức, ta không nóng sao được?”

Dương Tự Trừng vừa quỳ lạy vừa thưa rằng: “Hiện tại trong triều đã không còn là lời thị phi nữa mà đã là thực tế, nhân tâm đã mất từ lâu. Thẩm vấn án nếu là tìm ra sự thật, ta không nên mừng mà phải đau lòng thương xót họ vì họ đã không hiểu lý lẽ, vi phạm pháp luật, không thể vì tìm ra sự thật mà vui mừng. Nếu tâm vui mừng e rằng sẽ khiến vụ án có sơ hở sai sót. Nếu tâm tức giận, chỉ sợ phạm nhân sẽ không chịu nổi bị tra tấn mà miễn cưỡng nhận tội, dễ dàng bị oan sai. Mừng vui đã không nên, huống hồ là nóng giận?”

Vị quan huyện nghe xong những lời của Dương Tự Trừng thì trong tâm cảm động vô cùng, vẻ mặt cũng lập tức dịu hẳn đi, tức giận cũng biến mất.

Dương Tự Trừng gia cảnh nghèo khó, thiếu ăn thiếu mặc. Nghèo khó là vậy nhưng hễ ai tặng ông thứ gì ông đều cự tuyệt không nhận. Trong nha phủ, hễ gặp phạm nhân thiếu cái ăn, Dương Tự Trừng lại tìm nhiều cách để cứu tế họ.

Một lần có mấy phạm nhân mới đưa tới, không có thứ gì để ăn nên người nào cũng đói lả. Lúc ấy trong nhà Dương Tự Trừng cũng chỉ còn một chút ít gạo. Nếu mang số gạo ấy cứu tế phạm nhân thì người nhà ông sẽ bị đói. Nếu dành cho người nhà ăn thì ông lại thấy tội nghiệp phạm nhân. Cuối cùng, ông thương lượng với vợ. Vợ ông hỏi: “Phạm nhân từ đâu đến?”

Dương Tự Trừng đáp: “Mới từ Hàng Châu đến. Vì dọc đường nhịn đói, cho nên mặt ai cũng xanh lè, không có một chút huyết sắc nào hết”.  Vì tội nghiệp tù nhân quá, cuối cùng gia đình Dương Tự Trừng quyết định nhịn đói, lấy hết số gạo còn lại nấu cháo cho các tù nhân ăn.

Sau này hai vợ chồng họ sinh được hai người con, con lớn tên là Thủ Trần, con nhỏ tên là Thủ Chỉ. Cả hai đều làm quan đến chức Lại Bộ Thị Lang, một người ở Bắc Kinh, một người ở Nam kinh. Còn cháu lớn của Dương Tự Trừng làm quan Hình Bộ Thị Lang. Cháu nhỏ làm quan án sát ở tỉnh Tứ Xuyên. Hai con hai cháu đều là quan đại thần, được người đời kính trọng.

Trong sách “Hán Thư”, phần “Liệt truyện” cũng chép một chuyện như sau:

Vương Hạ làm quan Ngự sử Tú y thời Hán Vũ Đế. Lúc ấy chiến tranh xảy ra liên miên, đạo tặc hoành hành nhiều nơi. Vương Hạ phụng mệnh Hoàng đế tuần tra quận Ngụy, làm quan giám sát bắt đạo tặc.

Vương Hạ bắt được thuộc hạ của thủ lĩnh toán đạo tặc và rất nhiều người có liên quan. Tất cả toán cướp, những người sợ hãi nhát gan mà làm theo lệnh của chúng, quan viên trong quận và những người dân cung cấp thức ăn cho chúng, ước chừng lên đến một vạn người. Những thuộc hạ của Vương Hạ tấu trình lên trên đề nghị xử tử hết nhưng Vương Hạ không giết mà chọn cách hoặc là giảm hình phạt hoặc là tha cho họ.

Về sau, Vương Hạ bởi vì việc này mà bị cách chức. Ông nói: “Ta nghe cổ nhân nói, người cứu sống một ngàn người thì hậu thế nhất định được phong hầu. Ta cứu sống hơn một vạn người, gia tộc của ta sau này nhất định sẽ hưng vượng.”

Quả thực, theo “Hán Thư” ghi lại, trong số con cháu đời sau của Vương Hạ có 9 người được phong hầu, 5 người làm đến chức quan Đại tư mã, một người cháu gái là Vương Chính Quân làm Hoàng hậu của Hán Nguyên Đế và một số người làm chức quan nhỏ khác.

Cổ nhân nói: “Tiền nhân chủng nhân, hậu nhân đắc quả”. Người đời trước gieo trồng thiện nhân thì người đời sau nhất định sẽ đắc được thiện quả. Trái lại, nếu người đời trước ở trong vô tri vô thức mà gieo trồng ác nhân thì người đời sau nhất định sẽ phải nhận ác quả. Thiên lý là công bằng, không sai một chút nào, đó cũng là lời răn dạy của cổ nhân mà người đời sau nên ghi nhớ.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Ý nghĩa “Nhất mệnh – Nhì Vận – Tam Phong Thuỷ – Tứ Âm Phúc – Ngũ Tri thức”

  Theo quan niệm của những sách cổ học thuật số Phương Đông xưa có câu: “Nhất mệnh, nhì vận, tam Phong Thuỷ, tứ âm phúc, ngũ tri thức”. Câu này ý nghĩa như thế nào? Nghĩa là số mệnh là yếu tố quyết định toàn cục cuộc đời của một con người, tiếp đến là ảnh hưởng của thời vận, thứ ba là ảnh hưởng của phong thủy. Nói cách khác, số mệnh và sinh ra gặp thời là yếu tố tiền định thuộc tiên thiên; phong thủy là hậu thiên, được quyết định bởi hành vi của đương số và sự điều chỉnh môi trường sinh sống. Ngay từ lúc con người sinh ra đã được trời ban cho một “Số mệnh”, từ trong “mệnh” đó sẽ diễn sinh ra “vận” để chi phối cuộc sống sau này. Mệnh là sinh ra đã có sẵn, không thuộc phạm vi khống chế của bản thân, ví dụ như xuất thân, tướng mạo, cá tính, số lượng anh chị em,…, đó chính là “số mệnh” tiên thiên không thể thay đổi được, nên người xưa bình thản tiếp nhận và chấp nhận sống chung với nó. Căn cứ vào lý luận của Tử Vi Đẩu số, Tử Bình, Bát Tự Hà Lạc,… cuộc đời thực tế của con người là được ...

Nghệ thuật nói chuyện chân thành, thiện tâm của cổ nhân

 Nghệ thuật nói chuyện chân thành, thiện tâm của cổ nhân Nói chuyện là một môn nghệ thuật, giao tiếp giữa người với người đều cần chia sẻ bằng lời nói. Làm thế nào để biểu đạt quan điểm của bản thân một cách rõ ràng mà không khiến người khác cảm thấy bị tổn thương là điều đáng để chúng ta suy ngẫm. Mạnh Tử nói: “Dùng lời người khác có thể hiểu để kể về những đạo lý sâu xa, là giỏi ăn nói vậy”. Thế nào là những lời dễ hiểu? Sách “Đại học” có viết “Dùng những việc quanh mình làm ví dụ mà nói rõ đạo lý, có thể giúp người khác dễ hiểu và tiếp nhận hơn.” Về điều này, có một câu chuyện giản dị giữa Mạnh Tử và Tề Tuyên Vương như vậy. Một hôm, Mạnh Tử tới yết kiến Tề Tuyên Vương. Tề Tuyên Vương hỏi Mạnh Tử: “Người như ta có thể hành vương đạo không?” Mạnh Tử nói: “Đương nhiên là có thể! Chỉ cần ngài có thể khiến bách tính trong thiên hạ được an lạc, vậy thì ai là người không muốn tôn ngài làm vương được đây?” Tuyên Vương hỏi: “Vậy ta có thể khiến bách tính trong thiên hạ được an lạc hay kh...

Đời người phiền não bởi vì "buông không được, nghĩ chẳng thông, nhìn không thấu, quên chẳng nổi"

  https://vandieuhay.net/wp-vdh/uploads/2020/04/f4609f036c45851bdc54.jpg (Ảnh minh họa) Người ta thường bị vướng víu, quanh quẩn trong những điều nhỏ nhặt để rồi huỷ hoại cảm xúc bản thân. Nếu có thể buông bỏ những gánh nặng trong lòng, làm phong phú nội tâm, thì cuộc sống sẽ biểu hiện cho người ta những cảnh tượng tốt đẹp khác. Im lặng và mỉm cười là hai thứ lợi hại. Mỉm cười là cách để giải quyết nhiều vấn đề, im lặng là cách để tránh những vấn đề rắc rối xảy ra. Trên đời không có mấy ai hoàn mỹ, người có thể chấp nhận khuyết điểm của bạn là người yêu thương bạn thật sự. Và cha mẹ chúng ta chính là những người như vậy. Quá khứ đã qua, tương lai chưa đến, cuộc sống là trân trọng hiện tại. Đôi khi, bạn thấy mệt mỏi, có lẽ bạn đang nuối tiếc quá khứ và nghĩ nhiều về tương lai. Tín nhiệm giống như một mảnh giấy. Nếu đánh mất lòng tin, thì mảnh giấy sẽ bị nhăn nheo và không thể khôi phục lại nguyên dạng. Vậy nên, làm người phải biết giữ chữ Tín. Nếu không có lòng tốt và tình thương, t...